Thiết kế web chuẩn seo

Tiếp thị cơ bản kiến thức marketing căn bản

Tiếp thị cơ bản ( Marketing cơ bản) là tổng thể các hoạt động của doanh nghiệp hướng tới thoả mãn, gợi mở những nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường để đạt được cá mục tiêu kinh doanh của mình. Marketing cơ bản bắt đầu bằng việc nghiên cứu thị trường, phát hiện nhu cầu và cung cấp sản phẩm thoả mãn những nhu cầu đó.Marketing cơ bản giúp doanh nghiệp theo đuổi lợi nhuận tối ưu chứ không phải lợi nhuận tối đa. Lợi nhuận tối ưu là mức lợi nhuận cao nhất đạt được trong khi vẫn thoả mãn các mục tiêu kinh doanh khác.
Bí quyết để phát triển doanh nghiệp Chiến lược phát triển doanh nghiệp
Bí quyết để phát triển doanh nghiệp Chiến lược phát triển doanh nghiệp
Thương hiệu là danh tính doanh nghiệp. Đó là cách mà bạn đã xác định và làm thế nào bạn muốn khách hàng của bạn để xem bạn. Logo, màu sắc của sản phẩm, những từ bạn sử dụng để thúc đẩy chính mình tất cả những điều này và nhiều hơn nữa những kỹ thuật xây dựng thương hiệu quan trọng mà bạn cần
6 sai lầm trong kinh doanh trực tuyến
6 sai lầm trong kinh doanh trực tuyến
Trong đại ngày nay, bạn không thể thành công với công việc kinh doanh online nếu không áp dụng bất kì một chiến dịch liên quan tới mạng xã hội nào. Kết nối với khách hàng qua mạng xã hội có thể giúp họ nhận thức rõ về thương hiệu đồng chứng minh bạn là một đối tác đáng tin cậy. Đồng
Marketing Online nên bắt đầu từ đâu
Marketing Online nên bắt đầu từ đâu
Thời gian trực tuyến trên các mạng xã hội của người sử dụng còn ở mức thấp. Ngoại trừ TP.HCM, tại các đô thành khác của Việt Nam như Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ, cư dân mạng dành khoảng 3,8 – 5,63 giờ/tuần cho mạng xã hội. Tần suất sử dụng mạng xã hội tại các đô thị lớn của Việt Nam trung bình là
Bí mật để khởi động tiếp thị Tiếp thị sản phẩm là gì?
Bí mật để khởi động tiếp thị Tiếp thị sản phẩm là gì?
Bạn sẽ bắt đầu từ đâu với marketing khi  sắp tung ra sản phẩm hoặc dịch vụ của  bạn? Đây có lẽ là câu hỏi nhiều nhất khi nói đến khởi động marketing, và một Guy Kawasaki nổi tiếng  cũng đã từng cân nhắc,  Sale fixes everything Doanh thu cải tạo được mọi thứ Chắc chắn, trong bối cảnh hiện nay,
Bí quyết để thành công khi làm Content Marketing
Bí quyết để thành công khi làm Content Marketing
7 bước liệt kê ra việc bạn cần phải để cho chiến lược phát triển Marketing Onlinecủa mình phát triển mạnh mẽ hơn. Nhằm đến mục đích cuối cùng trong bán hàng trực tuyến đó chính là bán hàng tăng doanh số cho doanh nghiệp phát triển. Nếu bạn đang đầu tư kinh doanh online thì hãy phát triển ngay
5 công cụ giúp làm Content Marketing dễ hơn trong mùa hè Content Marketing 2020
5 công cụ giúp làm Content Marketing dễ hơn trong mùa hè Content Marketing 2020
Mùa hè đã đến, duy trì công việc sáng tạo nội dung trong mùa hè không phải là công việc khó khăn. Với những công cụ phù hợp, bạn có thể thực hiện rất nhiều việc trong một thời gian ngắn. Để lịch trình của bạn rộng mở cho nhiều chuyến du lịch và phiêu lưu. Đó là lý do tại sao THIẾT KẾ WEB CHUẨN SEO
Tiếp thị lại là gì?
Tiếp thị lại là gì?
Remarketing là một cách quảng cáo chỉ hiện thị cho những người ã truy cập vào trang web của bạn nhưng không có bất kỳ hành ộng mong muốn nào ặt hàng, ăng ký thành viên,.. Chỉ 12% khách mua hàng ngay từ lần truy cập ầu tiên. Đa số mọi người cần thêm thời gian và cả sự tin tưởng. Những người
Những điều website của bạn phải có
Những điều website của bạn phải có
Khách hàng bây giờ không mong đợi chỉ thấy văn bản trên một trang web. Các trang web nên có Flash và HTML5 để các phương tiện truyền thông có thể được xem trên nhiều loại thiết bị. Đăng video trên các trang web như YouTube và thêm vào trang web của bạn, càng nhiều những link liên kết về trang web
6 Chiến lược tiếp thị hiệu quả trên Mạng Xã Hội
6 Chiến lược tiếp thị hiệu quả trên Mạng Xã Hội
Nhiều nhà tiếp thị cho rằng nên đầu tư nhiều tiền cho quảng cáo và tiếp thị trực tuyến vì khách hàng thế hệ Y thường xuyên lên mạng internet. Tuy nhiên, một cuộc khảo sát do SocialChorus thực hiện năm 2013 cho thấy chỉ có 6% khách hàng thế hệ Y tin tưởng vào quảng cáo trực tuyến truyền thống.
Tiếp thị lan truyền Viral marketing là gì
Tiếp thị lan truyền Viral marketing là gì
Viral marketing sẽ khiến bạn không có lợi nhuận luôn, nhưng nếu bạn có thể tạo ra một làn sóng quan tâm thì bạn sẽ ược hưởng lợi về dài hạn. Vì sao? Miễn phí thu hút sự chú ý và tham gia của mọi người, và bạn sẽ có ược lượng email có giá trị, doanh thu quảng cáo và cơ hội kinh doanh thương mại
Đầu tư quảng cáo dựa trên mục tiêu tiếp thị Xây dựng chiến lược quảng cáo sản phẩm
Đầu tư quảng cáo dựa trên mục tiêu tiếp thị Xây dựng chiến lược quảng cáo sản phẩm
Sự gia tăng nhanh chóng của các hình thức và nền tảng truyền thông đã tạo nên nhiều phức tạp cho người mua truyền thông. Chắc chắn là trong mỗi tình huống cụ thể, luôn có những định dạng hoặc nền tảng truyền thông phù hợp nhất để sử dụng. Nhưng điều đó không có nghĩa là luôn phân bổ các khoản
Bí quyết đánh giá thị trường trước khi tham gia Phương pháp đánh giá thị trường
Bí quyết đánh giá thị trường trước khi tham gia Phương pháp đánh giá thị trường
Đáng ngạc nhiên, nhiều doanh nghiệp ngày nay không thể đánh giá chính xác tiềm năng của một thị trường họ dự đinh gia nhập hay đã tham gia rồi. Họ không có khả năng đánh giá đúng quy mô tiềm năng của thị trường, làm gì để thành công trong thị trường đó, cũng như có thể đạt được bao nhiêu thị
Bí quyết thực hiện chiến lược truyền thông xã hội thành công Cách làm social marketing
Bí quyết thực hiện chiến lược truyền thông xã hội thành công Cách làm social marketing
Một một trong những điều bạn nên nhớ là đừng nên làm phiền người khác bằng việc đăng bài suốt ngày. Chắc chắn bạn sẽ cảm thấy khó chịu khi một người cứ đăng một nội dung liên tục, vậy thì bạn cũng đừng làm thế với người khác. Trừ khi bạn đang truyền thông cho một sự kiện đặc biệt nào đó thì có
Bì quyết chiến lược tiếp thị số hiệu quả nhất Các phương pháp marketing hiệu quả
Bì quyết chiến lược tiếp thị số hiệu quả nhất Các phương pháp marketing hiệu quả
Đóng góp vào thành công của tiếp thị email là sự dễ dàng thực hiện. Chỉ cần 11% doanh nghiệp được khảo sát nghĩ email là một trong những loại khó thực hiện nhất của tiếp thị số. Phương tiện truyền thông xã hội đứng đầu danh sách, với gần 50% doanh nghiệp nói rằng nó khó thực hiện nhất. Cụ thể,
Influencer marketing là gì?
Influencer marketing là gì?
Xác định đúng người tạo một danh sách từ 10 đến 20 người để nuôi dưỡng mối quan hệ. Vì con số này có thể quản lý bằng cách giao tiếp trực tiếp. Nơi nào bạn có thể tìm thấy họ? lãnh đạo của công ty sẽ có mối quan hệ ới những người này. Bạn có thể sử dụng Google để xác định những người đang iết
Làm sao để công ty bạn nổi bật giữa đám đông?
Làm sao để công ty bạn nổi bật giữa đám đông?
Truyền thông điệp sai thị trường là một sự lãng phí, giống như đem một thứ không cần thiết vào nhà người khác thì nó giống như rác vậy. Chìa khóa ở đây là cung cấp o thị trường mục tiêu của bạn một cái gì đó mà họ quan tâm. Ví dụ một người cao tuổi quan tâm đến nhạc cổ điển, bạn lại gửi email
Doanh nghiệp Internet Kế hoạch marketing cho một sản phẩm
Doanh nghiệp Internet Kế hoạch marketing cho một sản phẩm
Internet nói chung và phương tiện truyền thông xã hội có thể là những công cụ tuyệt vời để tạo ra doanh số bán hàng. Tuy nhiên, giống như tất cả các công cụ, chúng phải được sử dụng đúng cách để tạo ra kết quả mong muốn. Bốn lời khuyên sau đây sẽ giúp bạn lựa chọn con đường đúng đắn. Internet là
Content Marketing bài học từ Amazon Và Hachette
Content Marketing bài học từ Amazon Và Hachette
Người ta rất dễ coi Amazon là một sinh vật to lớn, xấu xa nhất trong khu rừng thương mại điện tử. Nó được gọi là Walmart trên mạng bởi công ty hoàn toàn tập trung vào việc bán hàng – thậm chí hy sinh cả lợi nhuận của mình. Nhưng Amazon làm thế nào để thu hút khách hàng ngay trong lần đầu tiên?
Khi kinh doanh online 5 lỗi làm mất tiền oan
Khi kinh doanh online 5 lỗi làm mất tiền oan
Khi bạn mới bước vào kinh doanh, chi phí nhiều hơn doanh thu, việc chịu lỗ là chuyện đương nhiên. Đến khi bạn có được một lượng khách hàng nhất định thì việc kinh doanh sẽ ổn hơn. Khuyến mãi là một cách tuyệt vời để xây dựng khách hàng cho bạn nhưng chỉ khi ngân sách cho phép. Khách hàng
Khách hàng không hề từ chối bạn
Khách hàng không hề từ chối bạn
Nhân viên kinh doanh đối mặt với câu trả lời không dường như mỗi ngày. Điều khác biệt ở chỗ họ đối diện với nó ra sao. Lời cự tuyệt có thể khuyến khích bạn nên kiên trì và tiếp tục vững bước. Có thể bạn không đạt được những gì mình muốn ngay bây giờ, nhưng nếu tiếp tục nhẫn nại và cần mẫn, cuối
5 lý do khiến khách hàng quay lưng với thương hiệu
5 lý do khiến khách hàng quay lưng với thương hiệu
Khách hàng không mua một sản phẩm chỉ vì lý do duy nhất là nó RẺ! Bạn cần thật sự tỉnh táo khi sử dụng chiến lược giá cả với khách hàng. Vì khách hàng tỉnh táo hơn bạn nhiều. Họ không bỏ 500k để mua một chiếc đồng hồ có giá gốc 5 triệu chỉ vì nó rẻ mà không thể đeo chiếc đồng hồ đó đi làm. Giá cả
3 chữ R cho người làm Marketing trong thương mại điện tử
3 chữ R cho người làm Marketing trong thương mại điện tử
Chúng ta đều quen thuộc với 3 chữ R từ trường tiểu học Reading Đọc, 39;riting Viết và39; rithmetic Toán học. Tương tự như vậy, THIẾT KẾ WEB CHUẨN SEO NẮNG XANH giới thiệu bạn 3 chữ R quan trọng khác có 3 chữ R thiết yếu mà các nhà tiếp thị, đặc biệt là những người làm việc trong thương
Kinh doanh trực tuyến Gà đẻ trứng vàng Kinh doanh online thành công
Kinh doanh trực tuyến Gà đẻ trứng vàng Kinh doanh online thành công
Tìm giải pháp cho một vấn đề,  Chọn sản phẩm mà bạn thích, Nghiên cứu xu hướng thị trường, Am hiểu về sản phẩm là 4 yếu tố cơ bản để bạn thành công khi kinh doanh online. Cơ hội kinh doanh trực tuyến không ngừng mở rộng, nhiều người đang gắn kết các tiềm năng chưa được khai thác để buôn bán
Tiếp thị liên kết là gì?
Tiếp thị liên kết là gì?
Thế nào là tiếp thị liên kết? Affiliate marketing là một loại hình tiếp thị dựa trên hiệu quả. Người làm công việc này chỉ đơn giản chọn sản , dịch vụ trên website của nhà cung cấp, lấy đường link giới thiệu link aff và quảng bá đến khách hàng tiềm năng. Khi khách hàng bỏ tiền ra mua sản
Có nhiều cách định nghĩa Marketing khác nhau. Marketing là quá trình tổ chức lực lượng bán hàng nhằm bán được những hàng hóa do công ty sản xuất ra. Marketing là quá trình quảng cáo và bán hàng. Marketing là quá trình tìm hiểu và thỏa mãn nhu cầu của thị trường. Hay Marketing là làm thị trường, nghiên cứu thị trường để thỏa mãn nó. Chúng ta cũng có thể hiểu rằng Marketing là các cơ chế kinh tế và xã hội mà các tổ chức và cá nhân sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của mình thông qua quy trình trao đổi sản phẩm trên thị trường.

Theo Philip Kotler thì marketing được hiểu như sau: Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác.

Khái niêm này của marketing dựa trên những khái niệm cốt lõi: nhu cầu, mong muốn và yêu cầu, sản phẩm, giá trị, chi phí và sự hài lòng, trao đổi, giao dịch và các mối quan hệ, thị trường, marketing và những người làm marketing. Những khái niệm này được minh hoạ trong hình sau:

Nhu cầu, mong muốn và yêu cầu

Tư duy marketing bắt đầu từ những nhu cầu và mong muốn thực tế của con người. Người ta cần thức ăn, không khí, nước, quần áo và nơi ở để nương thân. Ngoài ra người ta còn rất ham muốn được nghỉ ngơi, học hành và các dịch vụ khác. Họ cũng có sự ưa chuộng những mẫu mã và nhãn hiệu cụ thể của những hàng hoá dịch vụ cơ bản.

Số liệu thống kê cho thấy, trong một năm, 249 triệu người Mỹ có thể tiêu dùng hay sử dụng 67 tỷ quả trứng, 2 tỷ con gà, 5 triệu máy sấy tóc, 133 tỷ km hành khách du lịch nội địa bằng máy bay và hơn 4 triệu bài giảng của các giáo sư đại học Anh ngữ. Những hàng tiêu dùng và dịch vụ này đẻ ra yêu cầu phải có hơn 150 triệu tấn thép, 4 tỷ tấn bông vải và nhiều loại tư liệu sản xuất khác.

Cần phân biệt rõ các khái niệm nhu cầu, mong muốn và yêu cầu. Nhu cầu của con người là một trạng thái cảm giác thiếu hụt một sự thoả mãn cơ bản nào đó. Người ta cần có thức ăn, quần áo, nơi ở, sự an toàn, của cải, sự quý trọng và một vài thứ khác nữa để tồn tại. Những nhu cầu này không phải do xã hội hay những người làm marketing tạo ra. Chúng tồn tại như một bộ phận cấu thành cơ thể con người và nhân thân con người.

Mong muốn là sự ao ước có được những thứ cụ thể để thoả mãn những nhu cầu sâu xa hơn đó. Một người Mỹ có nhu cầu thức ăn và mong muốn có có món hamburger, có nhu cầu về quần áo và mong muốn có bộ đồ Pierrre Cardin, có nhu cầu về sự quý trọng và muốn có một chiếc xe Mercedes. Trong một xã hội khác thì những nhu cầu này lại được thoả mãn theo một cách khác: Những người thổ dân Úc thoả mãn cơn đói của mình bằng chim cánh cụt; Nhu cầu về quần áo bằng mảnh khố; Sự quý trọng bằng một chuỗi vòng vỏ ốc để đeo cổ. Mặc dù nhu cầu của con người thì ít, nhưng mong muốn của họ thì nhiều. Mong muốn của con người không ngừng phát triển và được định hình bởi các lực lượng và định chế xã hội, như nhà thờ, trường học, gia đình và các công ty kinh doanh.

Yêu cầu là mong muốn có được những sản phẩm cụ thể được hậu thuẫn của khả năng và thái độ sẵn sàng mua chúng. Mong muốn trở thành yêu cầu khi có sức mua hỗ trợ. Nhiều người mong muốn có một chiến xe Mercedes, nhưng chỉ có một số ít người có khả năng và sẵn sàng mua kiểu xe đó. Vì thế công ty không những phải định lượng xem có bao nhiêu người mong muốn có sản phẩm của mình, mà điều quan trọng hơn là phải định lượng xem có bao nhiêu người thực sự sẵn sàng và có khả năng mua nó.

Những điểm khác biệt nêu trên đã làm sáng tỏ những ý kiến phê bình thường thấy của những người lên án marketing là "những người làm marketing tạo ra nhu cầu” hay "những người làm marketing dụ dỗ mọi người mua những thứ mà họ không mong muốn”. Những người làm marketing không tạo ra nhu cầu, nhu cầu đã tồn tại trước khi có những người làm marketing. Cùng với những yếu tố ảnh hưởng khác trong xã hội, những người làm marketing có tác động đến những mong muốn. Họ cổ vũ ý tưởng là chiếc xe Mercedes sẽ thoả mãn nhu cầu về địa vị xã hội của con người. Tuy nhiên những người làm marketing không tạo ra nhu cầu về địa vị xã hội. Họ tác động đến yêu cầu bằng cách làm ra sản phẩm thích hợp, hấp dẫn, vừa túi tiền và dễ kiếm cho những người tiêu dùng mục tiêu.

Giá trị chi phí và sự thoả mãn

Trong số rất nhiều những sản phẩm có thể thoả mãn một nhu cầu nhất định, người tiêu dùng sẽ lựa chọn như thế nào? Giả sử, hàng ngày một người phải đi làm xa 3 dặm. Có một số sản phẩm có thể thoả mãn được nhu cầu này: patanh, xe đạp, xe gắn máy, ô tô, taxi và xe buýt. Những phương án này tạo nên một tập khả năng lựa chọn sản phẩm. Giả sử người đó muốn thoả mãn một số nhu cầu phụ thêm trên đường đi làm, cụ thể là tốc độ, an toàn, thoải mái và tiết kiệm. Ta gọi đó là tập nhu cầu. Bây giờ thì mỗi sản phẩm có một khả năng khác nhau để thoả mãn những nhu cầu khác nhau của người đó. Chẳng hạn như xe đạp thì chậm hơn, kém an toàn và tốn sức hơn là ô tô, nhưng lại tiết kiệm hơn. Dù thế nào đi nữa thì người đó cũng phải quyết định sản phẩm nào sẽ đảm bảo thoả mãn nhu cầu đầy đủ nhất.

Khái niệm chủ đạo là giá trị đối với khách hàng. Người đó sẽ đánh giá khả năng của từng sản phẩm thoả mãn tập nhu cầu của mình. Anh ta có thể xếp hạng các sản phẩm từ loại thoả mãn nhiều nhu cầu nhất đến đến loại thoả mãn ít nhu cầu nhất. Giá trị là sự đánh giá của người tiêu dùng về khả năng chung của sản phẩm thoả mãn những nhu cầu của mình.

Ta có thể yêu cầu anh ta hình dung những đặc điểm của một sản phẩm lý tưởng đối với những nhiệm vụ đó. Anh ta có thể trả lời rằng sản phẩm lý tưởng sẽ đưa anh ta đến chỗ làm trong giây lát với sự an toàn tuyêt đối, không mất sức và chi phí bằng không. Khi đó giá trị của mỗi sản phẩm thực tế sẽ phụ thuộc vào mức độ nó gần với sản phẩm lý tưởng đó.

Giả sử rằng anh ta quan tâm hàng đầu đến tốc độ và sự thoải mái khi đi làm. Nếu anh ta được sử dụng miễn phí bất kỳ sản phẩm nào trong số đó, thì ta có thể đoán trước được là anh ta sẽ chọn ô tô. Nhưng bây giờ mới nảy sinh vướng mắc: chi phí để mua ô tô lớn hơn nhiều so với chi phí để mua một chiếc xe đạp, do đó anh ta sẽ phải từ bỏ nhiều thứ khác (có giá trị) để mua ô tô. Vì thế anh ta sẽ xem xét giá trị và giá cả của sản phẩm trước khi anh ta chọn. Anh ta sẽ chọn sản phẩm nào tạo ra giá trị lớn nhất trên một đồng USD.

Các nhà nghiên cứu về hành vi của người tiêu dùng ngày nay đã vượt ra ngoài khuôn khổ chật hẹp của những giả thuyết kinh tế về cách thức người tiêu dùng xét đoán giá trị và lựa chọn sản phẩm

Sản phẩm

Người ta thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của mình bằng hàng hoá và dịch vụ. Thuật ngữ sản phẩm ở đây được hiểu là cả hang hoá lẫn dịch vụ. Ta định nghĩa sản phẩm là bất cứ thứ gì có thể đem chào bán để thoả mãn một nhu cầu hay mong muốn. Ý nghĩa quan trọng của sản phẩm vật chất bắt nguồn không phải từ việc sở hữu chúng, mà chính là từ việc có được những dịch vụ mà chúng đem lại. Ta mua một chiếc xe không phải để ngắm nhìn nó mà vì nó cung ứng vận chuyển. Ta mua một cái bếp không phải để chiêm ngưỡng mà vì nó đảm bảo dịch vụ nấu nướng. Vì vậy các sản phẩm vật chất thực sự là những phương tiện đảm bảo phục vụ chúng ta.

Thực ra thì dịch vụ còn do những yếu tố khác đảm bảo, như con người, địa điểm, các hoạt động, tổ chức và ý tưởng. Nếu ta cảm thấy buồn thì ta có thể đến một câu lạc bộ hài kịch để xem một diễn viên hài biểu diễn, gia nhập câu lạc bộ độc thân (tổ chức) hay chấp nhân triết lý sống khác nhau (ý tưởng). Vì thế ta sẽ sử dụng thuật ngữ sản phẩm để ám chỉ sản phẩm vật chất, sản phẩm dịch vụ và những phương tiện khác có khả năng thoả mãn một mong muốn hay một nhu cầu. Đôi khi ta cũng sẽ sử dụng những thuật ngữ khác nhau thay cho sản phẩm, như hàng hoá, yếu tố thoả mãn hay nguồn tài nguyên.

Các nhà sản xuất hay phạm sai lầm là chú trọng đến các sản phẩm vật chất của mình hơn là đến những dịch vụ mà những sản phẩm đó thực hiện. Họ chỉ nghĩ đến việc tiêu thụ sản phẩm chứ không phải việc đảm bảo giải quyết một nhu cầu. Thế nhưng một người phụ nữ lại không mua cục sáp môi, mà bà ta lại mua "một niềm hy vọng” làm đẹp cho mình. Người thợ mộc không mua một cái khoan, mà mua một "lỗ khoan”. Đối tượng vật chất chỉ là một phương tiện bao gói một dịch vụ. Công việc của người làm marketing là bán những lợi ích hay dịch vụ chứa đựng trong những sản phẩm vật chất, chứ không phải là mô tả những tính chất vật lý của chúng. Những người bán chỉ chú tâm đến sản phẩm vật chất chứ không phải nhu cầu của người tiêu dung là người mắc bệnh "thiển cận marketing”.

Thị trường

Thị trường bao gồm tất cả các khách hàng hiện tại và tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn đó.

Như vậy quy mô của thị trường phụ thuộc vào một số người có nhu cầu và có những tài nguyên được người khác quan tâm, và sẵn sàng đem lại những tài nguyên đó để đổi lấy cái mà họ mong muốn.

Lúc đầu thuật ngữ thị trường được hiểu là nơi mà người mua và người bán gặp nhau để trao đổi hàng hóa, chẳng hạn như một cái chợ của làng. Các nhà kinh tế sử dụng thuật ngữ thị trường để chỉ một tập thể những người mua và người bán giao dịch với nhau vể một sản phẩm hay một lớp sản phẩm cụ thể, như thị trường nhà đất, thị trường ngũ cốc…Tuy nhiên, những người làm marketing lại coi người bán họp thành ngành sản xuất, coi người mua họp thành thị trường.

Những người kinh doanh sử dụng thuật ngữ thị trường để chỉ nhóm khách hàng khác nhau. Họ nói về thị trường nhu cầu (chẳng hạn như thị trường thực phẩm thường ngày), thị trường sản phẩm (thị trường giày dép), thị trường nhân khẩu (như thị trường thanh niên) và thị trường địa lý (như thị trường Việt Nam). Hay họ còn mở rộng khái niệm để chỉ cả những nhóm không phải khách hàng, như thị trường cử tri, thị trường sức lao động và thị trường nhà hảo tâm.

Thực tế thì những nền kinh tế hiện đại đều hoạt động theo nguyên tắc phân công lao động trong đó mỗi người chuyên sản xuất một thứ gì đó, nhận tiền thanh toán rồi mua những thứ cần thiết bằng số tiền đó. Như vậy là nền kinh tế hiện đại có rất nhiều thị trường. Chủ yếu các nhà sản xuất tìm đến các thị trường tài nguyên (thị trường nguyên liệu, thị trường sức lao động, thị trường tiền tệ…) mua tài nguyên, biến chúng thành hàng hóa và dịch vụ, bán chúng cho những người trung gian để những người trung gian sẽ bán chúng cho những người tiêu dùng. Người tiêu dùng bán sức lao động của mình lấy tiền thu nhập để thanh toán cho những hàng hóa và dịch vụ mà họ mua. Nhà nước là một thị trường khác có một số vai trò. Nhà nước mua hàng hóa từ các thị trường tài nguyên, thị trường nhà sản xuất và thị trường người trung gian, thanh toán tiền cho họ, đánh thuế các thị trường đó (kể cả thị trường người tiêu dùng), rồi đảm bảo những dịch vụ công cộng cần thiết. Như vậy là mỗi nền kinh tế quốc gia và toàn bộ nền kinh tế thế giới hợp thành những tập hợp thị trường phức tạp tác động qua lại với nhau và liên kết với nhau thông qua các quá trình trao đổi.
Như vậy, khái niệm thị trường đã đưa ta quay lại điểm xuất phát là khái niệm marketing. Marketing có nghĩa là hoạt động của con người diễn ra trong mối quan hệ với thị trường. Marketing có nghĩa là làm việc với thị trường để biến những trao đổi tiềm ẩn thành hiện thực với mục đích là thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người.

Nếu một bên tích cực tìm kiếm cách trao đổi hơn bên kia, thì ta gọi bên thứ nhất là người làm marketing còn bên thứ hai là khách hàng triển vọng. Người làm marketing là người tìm kiếm tài nguyên từ một người khác và sẵn sàng đưa ra một thứ gì đó có giá trị trao đổi. Người làm marketing tìm kiếm một phản ứng từ phía bên kia để bán hoặc mua một thứ gì đó. Nói cách khác, người làm marketing có thể là người bán hay người mua. Giả sử, có một số người muốn mua một ngôi nhà hấp dẫn vừa mới xây xong. Như vậy là những người mua đó cũng đang làm marketing! trong trường hợp cả hai bên đều tích cực tìm cách trao đổi, thì ta nói rằng cả hai bên đều là người làm marketing và gọi trường hợp đó là marketing lẫn nhau.

Trong trường hợp bình thường người làm marketing là một công ty phục vụ thị trường người sử dụng cuối cùng đối mặt với các đối thủ cạnh tranh. Công ty và các đối thủ cạnh tranh đều gửi sản phẩm tương ứng và thông điệp cho người sử dụng cuối cùng một cách trực tiếp hay thông qua các định chế trung gian marketing (những người trung gian và những người xúc tiến thương mại). Hiệu quả tương đối của họ chịu ảnh hưởng của những người cung ứng tương ứng cũng như của những lực lượng chính của môi trường (nhân khẩu học, kinh tế, vật chất, kỹ thuật, chính trị pháp lý, xã hội/văn hóa).
Sau khi nghiên cứu kỹ những khái niệm này chúng ta xin được nhắc lại khái niệm marketing như sau: Marketing là những cơ chế kinh tế và xã hội mà các tổ chức và cá nhân sử dụng nhằm thoả mãn những nhu cầu và đòi hỏi (mong muốn) của mình thông qua các quy trình trao đổi sản phẩm trên thị trường

Trao đổi, giao dịch và các mối quan hệ

Việc con người có những nhu cầu và mong muốn và có thể gắn cho các sản phẩm một giá trị vẫn chưa nói lên hết được ý nghĩa của marketing. Markerting xuất hiện khi người ta quyết định thoả mãn những nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi. Trao đổi là một trong bốn cách để người ta có được các sản phẩm.

Cách thứ nhất là tự sản xuất. Người ta có thể tự giải quyết cơn đói bằng cách săn bắn, đánh cá hay hái lượm trái cây. Họ không cần phải quan hệ với bất kỳ ai khác. Trong trường hợp này, không có thị trường và cũng không có marketing.
Cách thứ hai là cưỡng đoạt. Những người đói có thể cướp giật hay đánh cắp thức ăn của những người khác. Những người khác đó không được lợi gì ngoại trừ một điều là không bị thương.

Cách thứ ba là đi xin. Những người đói có thể đến xin người khác thức ăn. Họ không có thứ gì hữu hình để trao đổi, ngoại trừ lời cảm ơn.

Cách thứ tư là trao đổi. Những người đói có thể đem đến người khác tiền, loại hàng hoá khác hay dịch vụ để đổi lấy thức ăn.

Marketing phát sinh từ phương thức kiếm sản phẩm thứ tư này. Trao đổi là hành động tiếp nhận một sản phẩm mong muốn từ một người nào đó bằng cách đưa cho người đó những thứ gì đó. Trao đổi là một khái niệm quyết định, tạo nền móng cho marketing. Trao đổi chỉ xảy ra khi thoả mãn đủ điều kiện sau:

1. Ít nhất phải có hai bên.
2. Mỗi bên phải có một thứ gì đó có thể có giá trị đối với bên kia.
3. Mỗi bên phải có khả năng tự giao dịch và chuyển giao hàng hoá của mình.
4. Mỗi bên đều có quyền tự do chấp nhận hay khước từ lời đề nghị của bên kia.
5. Mỗi bên đều tin chắc là mình nên hay muốn giao dịch với bên kia.
Nếu có đủ năm điều kiện này thì mới có tiềm năng trao đổi. Còn việc trao đổi có thực sự diễn ra hay không là còn tuỳ thuộc vào vấn đề hai bên có thể thảo thuận được những điều kiện trao đổi có lợi cho cả hai bên (hay chí ít cũng không có hại) so với trước khi trao đổi. Chính vì ý nghĩa này mà trao đổi được xem như là một quá trình tạo ra giá trị, nghĩa là trao đổi thường làm cho cả hai bên có lợi hơn trước khi trao đổi.

Trao đổi phải được xem như là một quá trình chứ không phải là một sự việc. Hai bên được xem như là đã tham gia trao đổi nếu họ đang thương lượng để đi đến một thoả thuận. Khi đạt được một thoả thuận thì ta nói giao dịch đã diễn ra. Giao dịch là đơn vị cơ bản của trao đổi. Giao dịch là một vụ mua bán những giá trị giữa hai bên. Ta có thể đoán chắc rằng: bên A đã đưa cho bên B vật X và đã nhận lại vật Y. Tuy nhiên giao dịch không đòi hỏi phải có tiền như một trong những giá trị được mua bán. Giao dịch trao đổi hàng có nghĩa là người này đưa cho người kia một chiếc tủ lạnh và nhận một chiến TV. Giao dịch hàng đổi hàng cũng có thể là mua bán dịch vụ thay vì hàng hoá, như khi mà luật sư viết một tờ di chúc cho bác sỹ để đổi lấy việc khám bệnh…

Giao dịch đòi hỏi phải có một yếu tố: ít nhất có hai giá trị, những điều kiện thực hiện đã được thoả thuận, thời gian thực hiện đã thoả thuận, địa điểm thực hiện đã được thoả thuận. Thông thường có cả một hệ thống luật pháp hậu thuẫn và bắt buộc các bên giao dịch phải thực hiện đúng các phần cam kết của mình. Giao dịch rất dễ làm phát sinh mâu thuẫn do hiểu lầm hay cố tình. Không có "luật hợp đồng” thì mọi người sẽ thiếu tin cậy vào giao dịch và tất cả đều bị thua thiệt.

Các doanh nghiệp để theo dõi các vụ giao dịch của mình và phân loại chúng theo mặt hàng, giá cả, địa điểm và những biến cố khác. Phân tích doanh số bán là việc phân tích nguồn gốc doanh thu của công ty theo sản phẩm, khách hàng và địa bàn…
Giao dịch khác với chuyển giao. Trong chuyển giao bên A đưa cho bên B vật X nhưng không nhận lại vật gì hữu hình. Khi bên A đưa cho bên B một món quà, một khoản tiền trợ cấp hay một khoản đóng góp từ thiện, thì ta nói đó là một vụ chuyển giao chứ không phải giao dịch. Dường như marketing chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu giao dịch chứ không phải chuyển giao. Tuy nhiên hành vi chuyển giao cũng có thể được tìm hiểu qua khái niệm trao đổi. Thông thường người chuyển giao có những kỳ vọng nhât định đối với việc tặng quà, như nhận được một lời cảm ơn hay được thấy người nhận có những hành vi tốt hơn. Những người quyên góp quỹ chuyên nghiệp hiểu rất rõ động cơ "có đi có lại” của những nhà hảo tâm và mời họ đến dự các buổi lễ. Gần đây những người làm marketing đã mở rộng khái niệm marketing để nó bao hàm nhiều việc nghiên cứu hành vi chuyển giao cũng như hành vi giao dịch.

Theo ý nghĩa chung nhất thì người làm marketing đang tìm cách tạo cho được hành vi phản ứng từ phía bên kia. Một công ty kinh doanh thì muốn phản ứng đó là hành vi mua hang, một ứng viên chính trị thì muốn phản ứng đó là hành vi bỏ phiếu, nhà thờ thì muốn phản ứng đó là hành vi theo đạo, nhóm hoạt động xã hội thì muốn phản ứng đó là hành vi chấp nhận ý tưởng của mình. Marketing bao gồm những hoạt động được tiến hành nhằm tạo ra những phản ứng mong muốn đối với một đối tượng từ phía công chúng mục tiêu.

Để đảm bảo các cuộc trao đổi diễn ra trôi chảy, người làm marketing phải phân tích xem mỗi bên dự kiến sẽ cho và nhận cái gì. Những tình huống trao đổi giản đơn có thể biểu diễn bằng một hồ sơ trong đó có hai người tham gia cùng những thứ mong muốn và lời mời chào lưu thông giữa họ.

Đến đây ta đã thấy bản chất của marketing giao dịch. Maketing giao dịch là một bộ phận ý tưởng lớn hơn là marketing quan hệ. Những người làm marketing khôn ngoan đều cố gắng xây dựng những quan hệ lâu dài, đáng tin cậy, cùng có lợi với những khách hàng lớn, những người phân phối, đại lý và những người cung ứng. Việc này được thực hiện bằng cách hứa hẹn và luôn đảm bảo chất lượng cao, dịch vụ chu đáo và giá cả phải chăng cho phía bên kia. Nhiệm vụ đó cũng được thực hiện bằng cách xây dựng những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ về kinh tế, kỹ thuật và xã hội với các bên đối tác. Marketing quan hệ sẽ làm giảm được chi phí và thời gian giao dịch và trong những trường hợp tốt đẹp nhất giao dịch sẽ làm chuyển từ chỗ phải thương lượng từng lần sang chỗ trở thành công việc thường lệ.

Kết quả cuối cùng của marketing quan hệ là hình thành được một tài sản độc đáo của công ty, gọi là mạng lưới marketing bao gồm công ty và những người cung ứng, những người phân phối và khách hàng của mình mà công ty đã xây dựng được những mối quan hệ vững chắc, tin cậy trong kinh doanh. Marketing ngày càng có xu hướng chuyển từ chỗ cố gắng tăng tối đa lợi nhuận trong từng vụ giao dịch sang chỗ tăng tối đa những mối quan hệ đôi bên cùng có lợi với các đối tác. Nguyên tắc làm việc là phải xây dựng được những mối quan hệ tốt rồi tự khắc các vụ giao dịch sẽ có lợi.

Tiếp thị cơ bản
Tiếp thị cơ bản ( Marketing cơ bản) là tổng thể các hoạt động của doanh nghiệp hướng tới thoả mãn kiến thức marketing căn bản, marketing căn bản là gì, khóa học marketing cơ bản,tóm tắt lý thuyết marketing căn bản, marketing cần học những gì,học marketing có khó không
4.85 sao của 1915 phiếu bầu
Tiếp thị cơ bản
Tiếp thị cơ bản
Tiếp thị cơ bản Tư vấn miễn phí 093.784.1299 243 Huỳnh Văn Bánh, Phường 12, Q. Phú Nhuận, HCM

Hỏi đáp thảo luận Tiếp thị cơ bản

Hỏi

Bí mật để khởi động tiếp thị Tiếp thị sản phẩm là gì?

Trả lời
Bạn sẽ bắt đầu từ đâu với marketing khi  sắp tung ra sản phẩm hoặc dịch vụ của  bạn? Đây có lẽ là câu hỏi nhiều nhất khi nói đến khởi động marketing, và một Guy Kawasaki nổi tiếng  cũng đã từng cân nhắc,  Sale fixes everything Doanh thu cải tạo được mọi thứ Chắc chắn, trong bối cảnh hiện nay, [Xem chi tiết]
Hỏi

Tiếp thị lại là gì?

Trả lời
Remarketing là một cách quảng cáo chỉ hiện thị cho những người ã truy cập vào trang web của bạn nhưng không có bất kỳ hành ộng mong muốn nào ặt hàng, ăng ký thành viên,.. Chỉ 12% khách mua hàng ngay từ lần truy cập ầu tiên. Đa số mọi người cần thêm thời gian và cả sự tin tưởng. Những người [Xem chi tiết]
Hỏi

Tiếp thị lan truyền Viral marketing là gì

Trả lời
Viral marketing sẽ khiến bạn không có lợi nhuận luôn, nhưng nếu bạn có thể tạo ra một làn sóng quan tâm thì bạn sẽ ược hưởng lợi về dài hạn. Vì sao? Miễn phí thu hút sự chú ý và tham gia của mọi người, và bạn sẽ có ược lượng email có giá trị, doanh thu quảng cáo và cơ hội kinh doanh thương mại [Xem chi tiết]
Hỏi

Influencer marketing là gì?

Trả lời
Xác định đúng người tạo một danh sách từ 10 đến 20 người để nuôi dưỡng mối quan hệ. Vì con số này có thể quản lý bằng cách giao tiếp trực tiếp. Nơi nào bạn có thể tìm thấy họ? lãnh đạo của công ty sẽ có mối quan hệ ới những người này. Bạn có thể sử dụng Google để xác định những người đang iết [Xem chi tiết]
Hỏi

Làm sao để công ty bạn nổi bật giữa đám đông?

Trả lời
Truyền thông điệp sai thị trường là một sự lãng phí, giống như đem một thứ không cần thiết vào nhà người khác thì nó giống như rác vậy. Chìa khóa ở đây là cung cấp o thị trường mục tiêu của bạn một cái gì đó mà họ quan tâm. Ví dụ một người cao tuổi quan tâm đến nhạc cổ điển, bạn lại gửi email [Xem chi tiết]
Hỏi

Tiếp thị liên kết là gì?

Trả lời
Thế nào là tiếp thị liên kết? Affiliate marketing là một loại hình tiếp thị dựa trên hiệu quả. Người làm công việc này chỉ đơn giản chọn sản , dịch vụ trên website của nhà cung cấp, lấy đường link giới thiệu link aff và quảng bá đến khách hàng tiềm năng. Khi khách hàng bỏ tiền ra mua sản [Xem chi tiết]
093.784.1299